Qua các bài đọc mà chúng ta vừa nghe cho thấy Thiên Chúa là Đấng Thánh và giàu lòng thương xót. Ngài mời gọi tất cả mọi người cũng hãy nên thánh và yêu thương nhau. Đạo Công Giáo chúng ta cũng được gọi là đạo yêu thương. Đạo yêu thương này được khởi đi từ tình yêu của Thiên Chúa đối với công trình tạo dựng cũng như được bày tỏ trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ.

 Có thể nói điều răn “hãy yêu thương người lân cận như chính mình” là điểm chính trong bài đọc một mà chúng ta vừa nghe, và tác động đến phần còn lại của Kinh Thánh cho đến Tân Ước (x. Mt 19, 19). Cụm từ “Ta là Đức Chúa” được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong bài trích sách Lê-vi hôm nay. Ngài mong muốn dân riêng của Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với người nghèo khổ, người khuyết tật, người yếu đuối và cô thế. Những điều mà chúng ta có thể làm là cung cấp lương thực, thực phẩm, nuôi dưỡng, che chở và đấu tranh vì sự công bình cho họ. Thiên Chúa muốn chúng ta đối xử nhân ái với tất cả mọi người như bạn bè, như những người lân cận.

 Trải qua hơn ba thiên niên kỷ, tầm quan trọng của những lời này không hề thay đổi. Trách nhiệm của chúng ta là phải quan tâm đến những người lân cận. Thiên Chúa kêu gọi chúng ta yêu thương họ bằng tình yêu vô biên mà Ngài đã đổ trên chúng ta. Điều này thôi thúc chúng ta dự phần cách mau chóng và rộng rãi vào công việc cứu độ, để góp phần xoa dịu những đau thương, mất mát do thảm họa thiên nhiên hay chiến tranh gây nên. Chúng ta cũng được mời gọi phải đối xử một cách khoan dung, rộng lượng đối với người thù nghịch chúng ta. Nếu mỗi người đều nhận biết và bày tỏ tình yêu vô kỷ thì tình trạng bạo lực gây đau thương chết chóc trên thế giới sẽ giảm đi nhiều.

 Bài đọc 1 trích sách Lê-vi, kêu gọi mọi người phải nên thánh như Thiên Chúa là Đấng Thánh. Để nên thánh, con người cần thực thi giới răn mến Chúa – yêu người.

 Cùng với ý tưởng trên, bài Tin Mừng hôm nay, cho thấy Chúa Giê-su phán xét mọi người dựa trên lòng bác ái. Khi đối diện với đoạn kết của đời mình, hơn nữa, đối diện với sự tận thế của nhân loại, chúng ta có sợ hãi và trốn tránh?

 Chúa Giê-su nói đến ngày tận thế, lúc mà mọi người phải trình diện trước Chúa Chí Tôn để nghe tuyên án. Lúc ấy, Chúa sẽ chia nhân loại thành hai nhóm: nhóm chiên ở bên phải và nhóm dê ở bên trái. Nhóm chiên được ở bên Chúa và hưởng phúc với Ngài vì đã cho Chúa ăn, mặc và thăm viếng Chúa. Nhóm dê “ra đi để chịu cực hình muôn kiếp” vì đã không cho Chúa ăn, mặc và đã bỏ rơi Chúa.

 Như chúng ta thấy cả hai nhóm ngạc nhiên kêu lên rằng, mình có làm hay không làm những điều này cho Chúa bao giờ đâu, mà giờ đây Chúa lại kể ra như thế! Chúa đáp rằng: khi làm những điều ấy cho anh chị em của Chúa tức là làm cho Chúa. Sự phán xét của Chúa hoàn toàn đặt căn bản trên việc làm của ta trong quá khứ. Nói khác đi, quá khứ nên được nhìn lại hơn là quên đi.

 Bài Tin Mừng mà thánh Matthêu thuật lại hôm nay không phải là ẩn dụ nhưng là khải tượng có tính cách tiên tri về sự phán xét. Chúa Giê-su sẽ là vị quan tòa phán xét mọi người, gồm cả người Do Thái lẫn người ngoại bang, người trong Hội Thánh cũng như ngoài Hội Thánh. Trước hết Chúa đã đồng hóa mình với người nghèo, người đói, người đau, người bệnh tật, khi Ngài nói: “Ta đói… ta khát… ta trần truồng… ta là khách lạ...”. Chúa đã từng dạy rằng người nào cho một chén nước lã hoặc ân cần tiếp đón một người hèn mọn nào đó chính là làm việc ấy cho Ngài (x. Mt10, 40-42).

 Trong khải tượng này, sự phán xét không đặt tiêu chuẩn trên những công việc lớn lao hay những thành quả vĩ đại, nhưng trên những bổn phận đơn giản và căn bản trong cuộc sống bình thường, như cho người khác miếng cơm manh áo, tiếp rước họ qua đêm, thăm viếng những người đau ốm, tù đày. Đây là những công tác âm thầm, không ồn ào phô trương, không nhãn hiệu. Những chủ đề lớn đối với mỗi người chúng ta như đức tin, ân sủng, tha thứ là những nhận thức cần thiết trong chương trình cứu độ, nhưng không thể thay thế cho những bổn phận căn bản của con người đối với nhau trong xã hội.

 Ngày hôm nay chúng ta biết rõ được hoàn cảnh của xã hội qua các bản tin trên thông tin đại chúng, và nhờ đó đem đến cho chúng ta những hình ảnh về tai họa tràn ngập từ khắp nơi trên thế giới, như: bệnh tật, đói kém, chết chóc, bạo lực, bất công, lụt lội, động đất, chiến tranh, khủng bố… Mức độ đau khổ của con người không thể đo lường được. Thiên Chúa là Đấng quan tâm đến từng con chim sẻ cũng quan tâm đến mỗi một con cái đang đau khổ của Ngài (x. Mt10, 29).

 Trong bài Tin Mừng, người từ mọi nước tụ họp lại trước mặt Nhà Vua được chia ra thành hai nhóm dựa trên cách họ phản ứng với nhu cầu của con người. Một số người chia sẻ thức ăn, thức uống, quần áo, cũng như tiếp đón, và an ủi những kẻ thiếu thốn, đau ốm, khốn khổ hay bị tù rạc. Một số người khác thì không làm như vậy. Chúng ta biết cuộc sống trên trần gian rất ngắn, bởi vì tất cả những thứ như: của cải, quyền lực, địa vị, sức khỏe là nhất thời, không bao giờ trường cửu. Trong phút chốc nó sẽ tan biến như sương mai. Nhưng có những điều rất nhỏ bé, rất dễ và luôn nằm trong khả năng của con người, sẽ làm cho con người được vững bền trong hạnh phúc thật đó là sống bác ái.

 Chúa Giêsu gợi lên hình ảnh của toà phán xét cuối cùng, để dạy chúng ta sống tinh thần tương thân tương ái với hết mọi người. Đó cũng là tinh thần Mùa Chay đích thực mà Giáo Hội mời gọi chúng ta. Trong Mùa Chay, lời mời gọi ăn chay, cầu nguyện và làm phúc; xét theo tương quan là với chính mình, với Chúa và với tha nhân. Nhưng chính việc thi ân làm phúc bố thí cho đồng loại lại chính là làm cho Chúa như Chúa Giêsu đã khẳng định trong bài Tin Mừng hôm nay. Thể hiện tình liên đới qua việc làm phúc đóng vai trò quyết định cho phần rỗi chúng ta khi ra trước toà phán xét.

 Xin Chúa giúp con nhìn thấy viễn tượng về ngày cuối cùng để quan tâm và đáp ứng nhu cầu người khác trong hiện tại. Xin nhắc nhở con rằng Chúa đã đồng hóa chính Ngài với những người đang có nhu cầu. A-men.

 TTN