
Sức mạnh của lời cầu nguyện với tấm lòng chân thành
Chúa Giêsu kể một dụ ngôn trong Lc 18:9-14 về người Pharisêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Sau lời cầu nguyện của họ, Thiên Chúa chỉ đáp lại lời cầu nguyện của người thu thuế, và Người hoàn toàn phớt lờ lời cầu nguyện của người Pharisêu: “Ta bảo các ngươi, người sau (người thu thuế) trở về nhà thì được nên công chính, còn người trước (người Pharisêu) thì không.”
Người thu thuế được nên công chính nghĩa là gì?
Được nên công chính nghĩa là được hòa giải với Thiên Chúa và được bình an với Người, như Thánh Phaolô giải thích: “Vậy bây giờ chúng ta đã được nên công chính bởi đức tin, thì được bình an với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” Điều đó có nghĩa là chúng ta hiện đang sở hữu được ân sủng của Thiên Chúa và được đặc ân kêu gọi để chia sẻ vinh quang của Người, vì “Nhờ Đức Kitô, nhờ đức tin, chúng ta đã được vào hưởng ân sủng mà chúng ta đang hiện diện.” Sự công chính hóa đưa chúng ta vào một mối tương quan mạnh mẽ với Thiên Chúa thông qua các nhân đức đối thần, như chúng ta học được: “Niềm hy vọng này sẽ không làm chúng ta thất vọng, vì tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta.” (Rm 2:1-5)
Hãy tưởng tượng! Sự bình an nội tâm từ Thiên Chúa, một mối tương quan sâu sắc hơn với Người, sự tiếp cận với những ân sủng lớn lao của Người, đức tin mạnh mẽ, niềm hy vọng sống động và lòng bác ái nồng nhiệt – tất cả những món quà này đều đến từ những khoảnh khắc của cầu nguyện. Đây chính là sức mạnh của việc cầu nguyện với tấm lòng chân thành.
Người thu thuế đã nhận được tất cả những món quà công chính hóa này bởi vì ông đã cầu nguyện với một tấm lòng chân thành. Ông không đến với cầu nguyện chỉ để làm tròn bổn phận, để so sánh mình với người khác hay để khoe khoang như người Pharisêu. Ông đến để hiệp thông với Thiên Chúa bằng một con tim sẵn sàng đón nhận hành động công chính hóa của Người.
Có ba điều tạo nên một tấm lòng cầu nguyện chân thành.
Một tấm lòng cầu nguyện chân thành thì khiêm nhường
Người thu thuế chấp nhận sự hư vô của mình trước mặt Thiên Chúa. Ông không có lý do để khoe khoang về bất cứ điều gì mình có hay làm được. Ông khiêm nhường trước Thiên Chúa và thậm chí trước cả người bạn Pharisêu của mình. Ông không coi thường những người mà ông cảm thấy tệ hơn bản thân mình. Ông nhận ra rằng bất cứ điều gì tốt đẹp nơi mình đều là món quà từ Thiên Chúa, và Người duy trì điều tốt đẹp đó nơi ông. Ông hoàn toàn tập trung vào Thiên Chúa chứ không phải vào bản thân hay hành động tốt hay xấu của người khác.
Khi chúng ta cố gắng cầu nguyện với một tấm lòng khiêm nhường như vậy, chúng ta tạo không gian cho Thiên Chúa hành động trong cuộc đời của mình và ban cho chúng ta những ân sủng của sự công chính. Không gì cản trở hành động của Người nơi tâm hồn chúng ta cho bằng lòng kiêu ngạo không chịu ăn năn sám hối; “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.” (Gc 4:6) Cầu nguyện với một tấm lòng kiêu ngạo về cơ bản sẽ vô hiệu hóa sức mạnh của lời cầu nguyện.
Một tấm lòng cầu nguyện chân thành thì trung thực
Người thu thuế thực sự trung thực với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện của mình. Ông trung thực với Thiên Chúa về bản chất của Người – Đấng Thánh làm cho người khác nên thánh. Ông biết rằng Thiên Chúa nhìn thấy sự thật trong lòng mình, và ông không thể lừa dối Thiên Chúa. Ông thành thật về con người của mình trước Thiên Chúa toàn năng – một tội nhân đang vô cùng cần đến lòng thương xót của Người. Ông biết rằng Thiên Chúa toàn năng nhưng cũng nhân từ, khi ông cầu xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con, là kẻ có tội.” Ước muốn sâu xa và chân thật nhất của ông là lòng thương xót của Thiên Chúa, và ông có đủ trung thực để bày tỏ ước muốn này với Người trong cầu nguyện.
Ông trung thực về những gì chân lý của Thiên Chúa đòi hỏi nơi ông. Ông đủ thành thật để thừa nhận rằng mình đã không đáp ứng được những đòi hỏi từ một mối tương quan chân chính với Thiên Chúa. Ông không giả vờ rằng những việc làm của mình không có tội hay cố gắng diễn giải lại các điều răn của Thiên Chúa cho phù hợp với lối sống và lựa chọn của mình. Ông trung thực với chính mình, với lối sống tội lỗi của mình, và với nhu cầu ăn năn sám hối của mình. Dưới ánh sáng của chân lý, ông nhận biết và chấp nhận mình là một tội nhân. Không giống như người Pharisêu, người thu thuế đã chạm đến sự thật khiêm nhường rằng “mọi người đều đã phạm tội và tước mất vinh quang của Thiên Chúa.” (Rm 3:23)
Chúng ta cũng nên trung thực với Thiên Chúa và với chính mình. Chúng ta phải thành thật tin và sống theo chân lý của Lời Chúa được tìm thấy trong Kinh Thánh, Truyền Thống và giáo huấn của Giáo Hội. Chúng ta khiến lời cầu nguyện trở nên vô ích khi giả vờ rằng mình không thể biết và sở hữu chân lý khách quan, hoặc phủ nhận chân lý là khách quan và bất biến. Lời cầu nguyện của chúng ta trở nên vô ích khi chúng ta tin vào ảo tưởng rằng chân lý không thể được biết chắc chắn trong bất cứ điều gì và chúng ta chỉ cần tự mình khám phá nó trong quá trình sống. Làm sao Thiên Chúa có thể hành động trong cuộc đời của chúng ta khi chúng ta thậm chí còn không thành thật với Người về những nhu cầu sâu xa nhất của mình?
Lời cầu nguyện của chúng ta cũng vô ích khi chúng ta nghĩ rằng mình có thể tìm thấy chân lý cứu độ chỉ thông qua sự đồng thuận, những buổi lắng nghe, hoặc đối thoại với người khác. Thiên Chúa không thể đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta khi chúng ta tự tạo ra những chân lý tiện lợi cho riêng mình và bỏ qua chân lý trọn vẹn mà Người ban cho chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô trong Giáo Hội của Người. “Thuở xưa, Thiên Chúa đã phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách qua các ngôn sứ; nhưng trong những ngày sau cùng này, Người đã phán dạy chúng ta qua Con của Người.” (Hr 1:1-2).
Một tấm lòng cầu nguyện chân thành luôn tràn đầy hy vọng
Người thu thuế đặt trọn niềm hy vọng vào lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa, không đặt niềm hy vọng vào bất cứ điều gì hay bất cứ ai khác. Ông không có thành tích tốt đẹp về sự công chính để khoe khoang. Ông không có danh tiếng tốt giữa những người anh em Do Thái để có thể dựa dẫm vào. Ông không có bất kỳ thành tựu tôn giáo nào để có thể khoe khoang trước mặt Thiên Chúa. Ông hoàn toàn phụ thuộc vào Thiên Chúa để được Người ban ơn cứu độ và nuôi dưỡng.
Chúng ta cũng nên đến với cầu nguyện bằng lòng tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Ngay cả khi chúng ta nỗ lực hết mình trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cũng không nên đặt niềm tin vào những nỗ lực, thành công trong quá khứ, ý hướng tốt hay quyết tâm kiên định của mình. Chúng ta không thể mong đợi nhận được hành động của Thiên Chúa trong cuộc sống khi chúng ta quá tin tưởng vào bản thân mà không tin tưởng vào Thiên Chúa.
Thưa anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, cầu nguyện thường xuyên thôi là chưa đủ. Chúng ta cũng phải cố gắng cầu nguyện với một tấm lòng chân thành. Chúng ta phải tránh xa cám dỗ xem cầu nguyện chỉ là một bổn phận, mà hãy xem đó là phương tiện để biến đổi tâm tính của chúng ta trong cuộc sống này và làm cho chúng ta khiêm nhường hơn, chân thành hơn và hy vọng hơn.
Hy tế Thánh lễ là lời cầu nguyện mạnh mẽ nhất trên thế gian này bởi vì đó chính là lời cầu nguyện tự hiến của Chúa Giêsu trên thập giá. Hy tế này cũng mạnh mẽ bởi vì đó là cuộc gặp gỡ đặc quyền của chúng ta với Thiên Chúa, Đấng công chính hóa những tội nhân đến với Người bằng tấm lòng thành kính. Nhưng ngay cả lời cầu nguyện mạnh mẽ nhất này cũng đòi hỏi một tấm lòng chân thành để đón nhận trọn vẹn ân sủng của Người.
Vì vậy, chúng ta hãy dâng Thánh lễ, và tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta, với tấm lòng chân thành, và Thiên Chúa chắc chắn sẽ đáp lại bằng những ân sủng của sự công chính mà chúng ta rất cần đến.
Tác giả: Lm. Nnamdi Moneme OMV – Nguồn: Catholic Exchange (11/11/2025)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên