Tôi là tôi — nhưng tôi không phải là tôi
Tôi là tôi. Không ai có thể sống thay tôi, yêu thay tôi, đau thay tôi, chết thay tôi. Tôi có một lịch sử riêng, một khuôn mặt riêng, một ký ức riêng, một tiếng gọi riêng. Tôi không phải là người khác.
Nhưng đồng thời, tôi không phải là “tôi” theo nghĩa tôi tự mình làm nên chính mình.
Trước khi tôi có thể nói “tôi”, đã có những người gọi tôi là “con”, “em”, “anh”, “bạn”. Tôi nhận sự sống từ người khác. Tôi học ngôn ngữ từ người khác. Tôi được nuôi dưỡng bởi người khác. Tôi trở thành con người nhờ những tương quan mà tôi không tự tạo ra.
Vì thế, cái tôi của tôi luôn mang dấu vết của một cái “không phải tôi”.
Tôi là tôi, nhưng tôi nhận mình từ người khác.
Tôi là tôi, nhưng tôi được hình thành bởi những người tôi đã gặp.
Tôi là tôi, nhưng trong tôi có tiếng nói của cha mẹ, thầy cô, bạn bè, những người yêu thương tôi, và cả những người từng làm tôi tổn thương.
Tôi không tự tạo ra tôi. Tôi được trao cho chính mình.
Đây là điều làm cho căn tính con người trở thành một mầu nhiệm.
Tôi không phải là một cái tôi cô độc
Nếu tôi nghĩ: “Tôi hoàn toàn là của tôi, tôi không cần ai, tôi không mắc nợ ai”, thì tôi đang hiểu sai chính mình.
Không ai tự sinh ra mình. Không ai tự trao cho mình sự sống. Không ai tự dạy mình biết yêu. Không ai tự cứu mình khỏi sự cô độc. Cái tôi tuyệt đối khép kín thực ra là một ảo tưởng.
Con người chỉ có thể nói “tôi” bởi vì trước đó đã có một “bạn”.
Đứa trẻ nói “mẹ” trước khi nó hiểu đầy đủ “tôi”. Nó khám phá mình trong ánh mắt của người mẹ. Nó biết mình được yêu trước khi biết khái niệm về tình yêu. Nó biết mình có giá trị bởi vì có một người đón nhận nó.
Do đó, “tôi” được sinh ra trong tương quan với “bạn”.
Và nếu cắt đứt mọi tương quan, tôi không trở thành “tôi” hơn; tôi bắt đầu đánh mất chính mình.
Nhưng tôi cũng không thể hòa tan vào người khác
Tuy nhiên, nói rằng “tôi chỉ là tôi trong tương quan” không có nghĩa là tôi không còn là một chủ thể riêng biệt.
Tương quan đích thực không biến tôi và bạnthành một thứ gì đó vô danh.
Tình yêu không nói: “Bạn phải trở thành tôi.” Tình yêu nói: “Bạn hãy là chính bạn, và tôi đón nhận bạn như bạn là.” Đây chính là điểm đặc biệt của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Cha không phải là Con. Con không phải là Cha. Thánh Thần không phải là Cha hay Con. Các Ngôi vị không hòa tan vào nhau. Nhưng cũng không tồn tại như ba hữu thể cô độc. Các Ngôi vị là chính mình trong tương quan với nhau.
Vì thế, sự khác biệt không phá hủy hiệp nhất.
Trái lại: Chính vì có khác biệt nên mới có tương quan. Và chính nhờ tương quan mà sự khác biệt trở thành hiệp thông. Đây là một nguyên lý rất sâu cho đời sống con người.
Tôi không cần trở thành bạn để yêu bạn. Bạn không cần trở thành tôi để thuộc về tôi. Tôi có thể là tôi, bạn có thể là bạn, và chúng ta vẫn có thể thuộc về nhau.
Tôi là tôi khi tôi có thể nói “không phải tôi”
Thánh Phaolô diễn tả điều này bằng một câu rất mạnh:
“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.”
“Tôi không còn là tôi” không có nghĩa là Phaolô biến mất.
Ngược lại, Phaolô trở thành Phaolô đích thực hơn bao giờ hết.
Một Phaolô không còn bị thống trị bởi tham vọng, kiêu ngạo, quyền lực và quá khứ của mình. Một Phaolô được giải thoát để yêu.
Một Phaolô có thể nói: tôi sống, nhưng đời tôi không còn quy về tôi.
Đây là nghịch lý của Kitô giáo:
Tôi càng giữ lấy mình, tôi càng đánh mất mình.
Tôi càng trao mình, tôi càng tìm lại được mình.
Hay nói theo chiều kích Ba Ngôi:
Tôi không phải là một cái tôi tự đủ; tôi là một hữu thể được nhận lãnh, được yêu thương và được trao ban.
Từ “tôi” đến “chúng ta”
Nếu vậy, vấn đề lớn nhất của con người không phải là làm sao khẳng định cái tôi, nhưng là:
Tôi phải trở thành ai trong tương quan với Thiên Chúa và với người khác?
Cái tôi ích kỷ nói: “Tôi sống cho tôi.”
Cái tôi trưởng thành nói: “Tôi sống với người khác.”
Cái tôi của Tin Mừng đi xa hơn: “Tôi sống cho người khác.”
Và cuối cùng, nơi Đức Kitô: “Tôi không còn sống cho mình, nhưng sống từ Thiên Chúa và cho người khác.”
Đó chính là chuyển động từ cái tôi khép kínđến ngôi vị hiệp thông.
Vì thế, có thể viết lại nghịch lý ban đầu: Tôi là tôi — vì tôi là một ngôi vị duy nhất không thể thay thế. Tôi không phải là tôi — vì tôi không tự mình tạo nên chính mình.
Tôi là tôi trong tương quan — vì tôi nhận mình từ một Đấng khác và trở thành chính mình khi biết trao mình cho người khác.
Và ở tận cùng của suy tư ấy, chúng ta gặp mầu nhiệm Ba Ngôi:
Thiên Chúa là Thiên Chúa, không phải vì Thiên Chúa là một sự cô độc tuyệt đối, nhưng vì Thiên Chúa là sự hiệp thông của tình yêu.
Cho nên, con người càng giống Thiên Chúa bao nhiêu, con người càng không thể sống như một cái tôi khép kín bấy nhiêu.
Tôi là tôi. Nhưng tôi không thuộc về riêng tôi. Tôi nhận mình từ Thiên Chúa. Tôi được trao cho người khác. Và chỉ khi biết trao mình, tôi mới thực sự tìm lại được chính mình.
Đó là nghịch lý của căn tính, tình yêu và ơn cứu độ: muốn tìm thấy mình, phải bước ra khỏi mình; muốn sống, phải biết trao ban; muốn là “tôi”, phải học cách sống trong “chúng ta”.
“Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”
L.m Giuse Hoàng Kim Toan