
Người được kêu gọi làm môn đệ cho Chúa, không chỉ là những người khôn ngoan, tài giỏi. Chúa chọn những người từ những nguồn gốc nông dân, người đánh lưới cá, người thấp bé trong xã hội. Chính vì vậy người được Chúa chọn chẳng có gì để huênh hoang, tự đắc. Amot xuất thân từ người chăn nuôi.
Chúa chọn và sai đi. Người môn đệ tuỳ thuộc vào Chúa, nên chẳng có gì mà không do Chúa ban cho để rao giảng, để nhắc nhở người nghe theo tiếng Chúa. Tại Bêthen, ngôn sứ Amot bị tư tế Amasias đuổi về không cho rao giảng ở Bêthen. Amot cho biết ngôn sứ không phải là một nghề như nghề nghiệp chăn nuôi súc vật của ông. Chính vì vậy, ngôn sứ không phải là một nghề để kiếm ăn, nên đừng có tranh giành. Khi Amasias bảo Amot: “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm! Nhưng ở Bết Ên này, đừng có hòng nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều.” (Am 7, 12 – 13)
Người được sai đi không phải là một nghề để kiếm ăn, làm giàu, nên không bao bị, hay túi tiền. Người được sai đi, ai đón tiếp thì được nuôi ăn; ai không đón tiếp, thì bụng đói mà ra đi: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” (Mc 6, 11 – 12; “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Lc 10, 9).
Thực sự, Amot đã tự thuật về mình: Ông là một người chăn nuôi súc vật, chẳng có việc gì cao sang. Ông được Chúa ban cho giọng nói truyền cảm, ngôn từ lưu loát. Những gì ông nói dễ nghe, người ta thích nghe lời ông nói, không phải vì ông mà vì Chúa dùng ông. Những lời ông nói phần nào đó ông ghi chép lại hoặc người nào đó nghe đã ghi chép lại.
Ông nói về Israel dưới con mắt Chúa cũng như bao dân tộc khác, không hơn, không kém. Tội lỗi quy về ba điều: Chống lại Thiên Chúa, xúc phạm đến phẩm giá con người, cấm các ngôn sứ không được rao giảng và chống lại thiên nhiên (Am 2, 1 – 16). Các thứ tội này chẳng khác nào tự chống lại chính mình, nên tai hoạ chắc chắn không tránh khỏi.
Những lời ông nói hay thị kiến của ông, ông đều nói: “Lời Chúa nói thế này, Chúa đã cho tôi thấy. Điều ấy chứng tỏ rằng lời của ngôn sứ không phải lời của ông nên chống ông không được nói là một điều nguy hiểm cho tính mạng vạ và cho cộng đoàn: “Hỡi con cái Ít-ra-en, hãy nghe lời này, lời Đức Chúa phán để tố cáo các ngươi, tố cáo toàn thể thị tộc đã được Ta đưa lên khỏi đất Ai-cập. Lời ấy nói rằng: Giữa mọi thị tộc trên mặt đất, Ta đã chỉ biết các ngươi thôi. Vì thế, Ta sẽ hạch hỏi các ngươi về mọi tội các ngươi đã phạm. Không cưỡng lại được ơn gọi ngôn sứ” (Am 3, 1 – 2).
Amot đã trả lời với Amasias: Tôi không phải là ngôn sứ, nhưng Chúa bảo: “Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta.” Vậy giờ đây, hãy nghe lời Đức Chúa phán: Ngươi nói: “Ông không được tuyên sấm chống lại Ít-ra-en, cũng không được phát ngôn chống lại nhà I-xa-ác.” (Am 7, 15 – 16).
Sứ điệp của Amot nhắc lại những ngày xa xưa Chúa dẫn dắt Israel, ngày dân phản bội Chúa, ngày tai hoạ giáng xuống, nhưng cuối cùng là lời mời gọi: “Hãy đi tìm gặp Thiên Chúa” (Am 4, 12). Với những điều khuyên bảo: “Hãy tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi các ngươi sẽ được sống,” (Am 5, 14). Loan báo về “Ngày của Chúa” (Am 5, 18) là ngày tối tăm hay là ngày toả ánh sáng tôn nhan Chúa? “Ngày của Đức Chúa chẳng phải là tối tăm thay vì ánh sáng đó sao?” (Am 5, 20)
Amot chú tâm vào việc canh tân phụng vụ và thay đổi cách sống, chú trọng nội tâm chứ không hình thức: “Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú.” (Am 5, 21). Thực hành đời sống công bình bác ái: “Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn.” (Am 5, 24)
Amot là người trung thực khi nói về sứ vụ của ông. Ông khiêm nhường và khôn ngoan. Tính ông cương trực, nói là nói Lời Chúa. Chúa ban cho ông có lối viết như một văn sĩ, ăn nói đúng mực, không xu nịnh. Ông thực sự là một ngôn sứ mẫu gương.
Người ngôn sứ rao giảng là một bổn phận và không sợ hãi: “Còn chúng, vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng.” (Ed 2, 5)
L.m Giuse Hoàng Kim Toan