Cuộc phỏng vấn ông Eduardo Bonnin được thực hiện bởi ĐC Paul Josef Cordes, Giám Mục Vatican, 1997
Vincent Quỳnh Tín – Nguyễn Tiến Phạm thu thập và lược dịch, tháng 5 năm 2014
DẤU CHỈ CỦA HY VỌNG
SIGNS OF HOPE

Vào năm 1997, Eduardo Bonnin đón tiếp vị khách đến thăm từ Vatican là Đức Cha Paul Josef Cordes, nay là Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cor Unum “Đồng Tâm”. Trong khoảng thời gian này, Ngài được mời gọi đến thăm các vị sáng lập hoặc những người trách nhiệm của một số Cộng Đồng và Phong Trào đang hoạt động tích cực trong Giáo Hội hiện nay.
1. Anh có thể cho chúng tôi biết sơ lược về Anh và sự phát triển trong đời sống đức tin? Anh đã lớn lên và trưởng thành trong môi trường nào và đã được hướng dẫn ra sao?
Eduardo: Tôi tin tưởng một cách chân thành là Thiên Chúa, qua mọi hoàn cảnh Ngài đã lần lượt sắp đặt mọi việc trong suốt cuộc sống của tôi. Trong khi tôi rất vững tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, tôi đã không nhận ra được là tôi đã chọn lấy cuộc sống và con đường sống của chính tôi ngay từ thời niên thiếu. Ngài đã hướng dẫn tôi trong mọi hoàn cảnh, phải nhìn nhận là Ngài đã mang lại cho tôi một cuộc sống đầy hương vị tốt lành.
Phải nói là môi trường mà tôi đã được sinh ra và lớn lên là một trong những món quà quý giá mà Thiên Chúa đã ban cho tôi. Gia đình tôi gồm 10 anh chị em, ba trai và bảy gái. Một người đang là Linh mục trong Giáo phận và một người, đã từ trần, đã là Sơ thuộc dòng Carmelô. Vì tôi lớn lên trong thời kỳ của cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha và Thế chiến thứ II nên tôi đã gia nhập quân ngũ trong vòng chín năm. Trước đó, tôi được theo học tại trường của các Sư huynh dòng La-San và các Cha dòng Augustinô. Không ngần ngại để nói rằng, yếu tố căn bản ảnh hưởng vào đời sống của tôi là sự đam mê đọc sách, và cho đến hôm nay cũng vẫn như thế. Ngay từ thời niên thiếu, tôi thường hay nói là tôi thà không ăn uống gì cả trong ngày, còn hơn là trải qua một ngày dài mà không được đọc sách. Tôi thường tiêu dùng tất cả số tiền dành dụm để mua sách đọc.
2. Xin Anh cho biết về tầm ảnh hưởng của đức tin trong thời kỳ trai trẻ của Anh?
Eduardo: Đối với sự suy nghĩ đơn giản của tôi, đó là điều thật quan trọng, chúng ta có đức tin vì là người Kitô hữu, và truyền giáo vì trọng tâm của đức tin là chính Chúa Giêsu. Với Chúa Kitô là trung tâm điểm của đức tin, chúng ta luôn được chiếu rọi để tìm thấy hướng đi trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn và phức tạp, chúng ta cũng tìm ra được phương hướng về Thiên Chúa và Hội Thánh của Ngài.
3. Anh đã nhận thức và đặt câu hỏi về Thiên Chúa ra sao?
Eduardo: Tôi đã không bao giờ nghĩ để đặt câu hỏi về Chúa, ngược lại, tôi nghĩ Chúa là câu trả lời. Ngài không chỉ là một câu trả lời, mà là giải đáp. Tôi cảm nhận là một khi người ta có được đức tin, khi họ tin tưởng mãnh liệt vào một thực tại và một sự việc vô cùng khó khăn để hiểu, đó là Thiên Chúa trong Đức Kitô, và Ngài yêu thương chúng ta, Ngài yêu thương tôi. Từ đó, tất cả mọi sự việc khác sẽ tuôn tràn đến với chúng ta, như một món quà không liệu trước. Tôi chân thành tin là lúc nào đó, với sự cố ý, chúng ta sai lầm khi tin tưởng rằng Thiên Chúa nhập thế để cứu chuộc thế giới. Xin thú nhận là tôi không tin tưởng như thế. Tôi tin là Ngài đã nhập thể và xuống thế làm người để cứu chuộc con người, chớ không phải thế giới, qua đó con người tìm được niềm hạnh phúc vì có được niềm tin vào Thiên Chúa.
Trong cuộc sống, tôi đã từng thấy nhiều người sống thật hạnh phúc ngay cả họ không có của cải gì; và một số người khác sống trống vắng niềm vui hạnh phúc, chết dần trong sự chán chường trong khi họ sở hữu thật nhiều của cải vật chất. Những sự kiện trên giúp tôi hiểu rõ hơn về lời Chúa phán là vương quốc của Ngài không ở trên thế gian này, và lý do tại sao Ngài đặt vương quốc ấy là nơi Ngài hiện diện và là nơi mà Ngài hài lòng. Điều này nằm trong đời sống nội tâm của mỗi người, trong lý trí cũng như trong tâm tình. Qua ân sủng, Thiên Chúa hòa nhập với con người, bản ngã cùng với lòng tự cao và tham vọng của con người được chinh phục; và rồi từng ngày một, sự xác tín, sự quyết tâm và nhẫn nại của họ sẽ giúp họ sống đúng theo thông điệp của người Kitô hữu. Ngay cả với tất cả những điều kể trên, tôi tin chắc là cho dù vương quốc của Thiên Chúa không ở tại trần thế này, nhưng Ngài luôn đặt lòng cảm kích một cách trọn vẹn cho các vương quốc thuộc thế giới này.
4. Từ khi còn trẻ, Anh đã từng cảm nghiệm về sự can thiệp của Thiên Chúa vào đời sống của chính Anh, xin Anh cho biết một biến cố trọng đại mang tầm vóc cho đến ngày nay?
Eduardo: Từ trong tâm thức, tôi luôn nhận ra những suy tư của chính tôi được tóm lược trong lời nguyện khẩn cầu cùng Thiên Chúa trong “Giờ Tông Đồ”: “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con chờ có phép lạ, mới tin mới làm, nhưng xin cho chúng con đức tin mạnh mẽ để xứng đáng Chúa ban phép lạ cho chúng con”. Tôi luôn cảm kích bởi sự lặng thinh và kiên nhẫn của Thiên Chúa hơn là các phép lạ và các sự kiện hiện ra. Sự thật thường đến với chúng ta qua những người hiện diện quanh ta, những người như đang sống xa rời tính tinh tuyền và nguồn chân phước vô tận của Đức Chúa Cha.
5. Đặc sủng sáng lập của Cursillo được gắn liền với tiểu sử của vị sáng lập. Phong trào đã được thành lập ở một thời điểm lịch sử chính xác mà qua đó những nhu cầu thiết thực được gợi lên, và Anh đã đáp ứng một cách cụ thể. Để soi rọi rõ ràng cho lịch sử cá nhân, xin Anh cho biết những bước đầu tiên đã góp phần cho sự ra đời của Phong trào?
Eduardo: Tôi đã đọc được lời nói này từ Ellermeier: “Một hiện tượng lịch sử chỉ có thể được hiểu đúng một khi có luồng ánh sáng chiếu dọi về nguồn gốc của nó”. Thời gian tôi còn phục vụ trong quân đội vào năm 1938, tôi nhận ra thế giới hiện hữu rất khác với hình ảnh thế giới mà tôi đã có. Trong môi trường đó, những giá trị sống đã thể hiện hoàn toàn trái ngược với những người mà tôi đã sống trong gia đình tôi. Từ đó tôi bắt đầu đặt câu hỏi cho chính bản thân mình là “có phải nguyên nhân dẫn đến cách sống của những người này là vì họ chán ngấy với những quy định của luật lệ hay là họ lãnh đạm với đạo giáo?” Dần dà, quan sát về cách sống của họ, tôi tin chắc rằng sự lãnh đạm với đạo giáo là lý do chính yếu đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Từ thời điểm đó, tôi chú tâm tìm những gì là thực tế, cơ bản cốt lõi cần thiết cho giáo huấn của đạo giáo, sứ điệp cho Kitô hữu, và những quan điểm của các tác giả Kitô giáo đã được nói đến và giải thích một cách rõ ràng nhất. Tôi đã đọc Thánh Augustinô, Thánh Têrêsa, và Thánh Gioan Thánh Giá. Tôi cũng đã thích học hỏi về những nhân vật mà qua họ chúng ta nhận ra được sứ điệp một cách rõ ràng. Trong số các tác giả, tôi đã đọc các tác giả như Dante, Cervantes, Baltasar, Gracian v.v.. Trong các sở thích của tôi là tôi có thể đọc một cách hiệu quả nhất từ những tác giả: Hugo và Karl Rahner, Guardini Romano, Cha Plus, Cardinal Mercier, Cardinal Suenens, Tristan Amoroso Lima v.v.., và các nhà tâm lý học như Carl Rogers, Maslow …
Phần tôi, ngày hôm nay tôi tin cũng như tôi đã tin trước đây, rằng chính Thánh Kinh là tài liệu đích thực và là tóm tắt hay nhất của giáo huấn. Sứ điệp của Chúa Kitô được gợi lên đầu tiên để qua đó tìm hiểu và mong muốn được biết Ngài. Để nâng cao kiến thức của tôi về Chúa Kitô, những cuốn sách sau đây đã giúp tôi rất nhiều: ‘Life Abundant’, Arami; ‘Soul của Apostolate’, Chautard; ‘The Glories của Divine Grace’, MJ Scheeben v.v.
Và để hiểu rõ hơn về con người, tôi đã tìm đọc những sách khác như: ‘Les puissances de je’, Louis Lavelle; We Have Been Friends Together, và Raissa Jacques Maritain, và sau này, ‘In Tierra Extrana’ của Lili Alvarez, v.v..
6. Anh vừa nói đến thật nhiều tác giả và sách họ viết nhưng Anh có thể cho biết một cách cụ thể là những ý tưởng nào đã ảnh hưởng đến suy tư của Anh?
Eduardo: Tất cả những ý tưởng đó, và qua việc tiếp xúc với tha nhân, đã giúp tôi nhận ra thực trạng, và từ đó, sứ điệp Lời Chúa được đón nhận với niềm tin xác tín, nguyên thủy và sống động và của mỗi người chúng ta, và điều đó làm tăng thêm phẩm giá của đời sống chúng ta. Phẩm giá đó, một khi được triển nở trong Ơn Chúa, giúp chúng ta nhận ra và tạ ơn cho những điều tốt lành mà chúng ta cũng như những niềm vui chúng ta có thêm được trong cuộc sống.
Phong trào Cursillo, nhờ ơn Chúa và lời cầu nguyện của nhiều người, đã được sinh ra và thật sự thấm nhập vào tâm tư của nhiều người trong cuộc sống này, thấm nhập những con người bình thường qua cách sống đơn giản của chính họ, và chính họ cũng không ngờ để tự đặt câu hỏi với chính mình, ngay cả cũng không có dịp để nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống của chính họ.
Ngay từ lúc đầu, điều mà chúng tôi mong muốn là sự tự do của con người được hội ngộ với Thánh Thần Chúa.
Chung quanh nguồn tư tưởng chính, tin chắc rằng muốn đạt được hiệu quả trong việc tìm kiếm và quy tụ những yếu tố mang lại sự hội ngộ với Thánh Thần Chúa như mong ước, trước hết là tôi và sau đó là những Anh Em khác đã đề xướng sự cần thiết để tìm hiểu và học hỏi để có được một phương thức thích đáng nhất, đơn giản và hấp dẫn hầu mang lại kết quả một cách nhanh chóng.
Trong khoảng thời gian đó, Ban Điều Hành của Đoàn Thanh Niên Công Giáo bị áp lực của vị chủ tịch là Anh Manuel Aparici – sau này chịu chức Linh mục và là Tuyên úy của Ban Điều Hành – quy tụ 100,000 thanh niên thiếu nữ để thật sự sống trong ơn sủng Chúa tại mộ Thánh Gia cô bê Tông đồ tại Compostela. Đây là một sự kiện đáp ứng cho điều nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Piô XI trong năm 1937 qua sắc lệnh “Burning Desire” của ngài, trong hoàn cảnh của Giáo hội tại German Reich rằng: thế giới phải tin tưởng vào Thiên Chúa Giáo vì được đặt nền tảng trên đức hạnh, qua đó thể hiện một tấm gương và một hướng sống.
Một Ban Đại Diện của Đoàn Thanh Niên Công Giáo đã đến Roma diện kiến Đức Thánh Cha và tuyên hứa với ngài là sẽ nỗ lực để tìm cho được giải đáp mà thế giới đang cần đến, một thực trạng của đất nước Tây Ban Nha.
Từ thời điểm đó, trong những dịp nghỉ lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, nhóm thanh niên này đã tổ chức những khóa học là đời sống Kitô hữu tại nhiều giáo phận. Những khóa học này kéo dài trong suốt một tuần lễ. Họ gọi những những người làm việc trong phạm vi giáo phận là “Pilgrim Leaders”, và phạm vi giáo khu là “Pilgrim Guides”. Mục đích là khuyến khích và vận động tinh thần cho những người trẻ đi hành hương viếng mộ thánh Giacôbê Tông Đồ. Một trong những khẩu hiệu nổi tiếng trong thời điểm hành hương là “những vị thánh của Thánh Giacôbê”.
Khi những khóa học đầu tiên được tổ chức tại Mallorca, nhận được lời mời, nhưng tôi thật sự không muốn tham dự. Đúng ra, lúc đó tôi không phải là thành viên của Đoàn Thanh Niên Công Giáo, lý do là vì tôi không cảm nhận được cách thức hoạt động của họ. Cho đến khóa thứ nhì được tổ chức vào năm kế tiếp, tôi tham dự vì nể tình anh trưởng đoàn. Qua khóa học, tôi cảm nhận được nếp sống vui tươi, đầy nhiệt huyết của nhóm trẻ này, và tôi đã tham gia kể từ thời điểm này.
Khoảng thời gian sau đó, một khóa kế tiếp được tổ chức tại Mallorca, tôi được đề cử vào ban điều hành khóa đảm trách nói bài “Nghiên Cứu Môi Trường”, và kể từ đó, một cách nhìn mới và khác biệt đã ảnh hưởng đến tất cả những bài nói khác.
Tôi luôn bận tâm để tìm một câu trả lời thích đáng cho câu hỏi là “những gì sẽ tiếp nối sau những cuộc hành hương đó”. Đó là câu hỏi mà anh em trong nhóm thường hỏi lẫn nhau.
Rút tỉa từ những khóa học đã qua, chúng tôi nhận ra phương cách truyền đạt suy tư đến người khác theo một phương thức khác, không phải nội dung của những bài nói đánh động người nghe, nhưng cùng nhau sống những điều ấy mới là yếu tố đánh động người nghe. Chúng ta đưa họ đến một địa điểm thích hợp và tạo điều kiện thuận lợi để họ sống và sinh hoạt từng nhóm, khi ấy họ sẽ dễ dàng kết tình thân với nhau. Trong khóa học, chúng tôi cũng đã giữ lại một số đề tài thảo luận cần thiết, vì chúng ta không chỉ đơn thuần gầy dựng những điều mới, mà tinh thần hăng say trong khung cảnh của khóa học sẽ tạo điều kiện cho tất cả tham dự viên có được những ngày sống một cách hài hòa và phấn khởi.
7. Rõ ràng là Anh đã mang đến một phương thức xứng đáng cho các khóa học được Đoàn Thanh Niên Công Giáo tổ chức. Qua việc áp dụng phương thức mới này, Anh có nhận ra những kết quả mới lạ nào không?
Eduardo: Điều mà chúng tôi nhận thấy thật rõ ràng là thời gian khóa học quá dài, điều này đã ảnh hưởng không tốt cho số người mà chúng tôi muốn truyền đạt. Chúng tôi nghĩ là thời gian ba ngày là tốt nhất, nếu là ba ngày cuối tuần, tham dự viên chỉ cần xin nghỉ ngày thứ sáu là đủ. Nếu khóa học bắt đầu từ tối thứ năm, thời gian thuận tiện của khóa học đã trở thành yếu tố cần thiết, để tinh thần của khóa có cơ hội thấm nhập đến nhiều người hơn. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là cùng nhau học hỏi những gì là cốt lõi, để từ đó mọi người có thể công bố đến nhiều người khác những gì là cốt lõi của khóa học một cách sâu sắc, hiệu quả, ngắn gọn và rõ ràng, nhưng không kém phần hấp dẫn.
Suy niệm, cầu nguyện, học hỏi, rồi lại cầu nguyện, đó là phương thức được Phong trào Cursillo áp dụng để khởi sự và tiếp tục phát triển. Lúc đầu, những khóa học được gọi một cách đơn thuần là các khóa Cursillo, nhưng rồi sau đó, để tạo sự khác biệt với những khóa trong thời điểm đó, một số người đã chủ trương mở các khóa Cursillo dành cho những thành phần riêng biệt như là giáo sư đại học, cảnh sát, và v.v… Phương cách này đã hoàn toàn đi ngược lại với đường hướng của chúng tôi – là những người đã sáng lập và gầy dựng Phong trào Cursillo.
Như lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất mà chúng ta vẫn đọc trước những buổi họp, đặc biệt là trong những lúc có những điều cần bàn cãi và tranh luận, qua đó chúng ta cầu xin cho sự hài hòa trong anh em trong những tình huống như vậy. Trong khoảng thời gian này, tôi đã trực thuộc Đoàn Thanh Niên Công Giáo Thiện Chí, nhưng tôi đã không thích phương thức hướng dẫn và hình thức sùng đạo bề ngoài của những sinh hoạt lúc đó, và đó là điều đã không giải tỏa được sự bế tắc lúc bấy giờ.
Chúng tôi vẫn tiếp tục nhắm đến một phương thức trong một chiều hướng khác, qua đó, chúng tôi chú trọng đến những người đang sống xa cách với giáo hội. Và để tránh mang lại tình trạng căng thẳng với Đoàn Thanh Niên Thiện Chí, thay vì đối chọi lại, chúng tôi chỉ muốn phản ứng một cách nhẹ nhàng, những vấn đề cập đến ý muốn thay đổi phương thức sinh hoạt. Chúng tôi biết là cần phải duy trì một khoảng cách cần thiết, để qua đó, chúng tôi có thể nhận định sự việc một cách khách quan. Để làm được như vậy, chúng tôi đã cố công học hỏi một cách sâu xa hơn về giáo huấn của Giáo Hội, vì đó là những điều chúng tôi muốn truyền đạt. Và để có thể truyền đạt sứ điệp đến từng cá nhân một cách thích hợp nhất, chúng tôi đã học hỏi và nghiên cứu môi trường sinh sống của những người mà chúng tôi đang nhắm tới, đó là những tham dự viên của khóa Cursillo.
Việc đầu tiên là chúng tôi bắt đầu nghiên cứu về môi trường.
Tôi mang đến cho anh em những điều mà tôi đã nghĩ ngợi từ lâu nay. Chúng ta muốn biết về các tham dự viên, họ là ai?; và để có được cái nhìn chính xác hơn, chúng tôi đã tưởng tượng và hình dung để chia nhóm qua cách sống và môi trường sống của họ. Họ là những người thuộc nhiều tôn giáo kể cả những người vô tín ngưỡng, và những anh em thuộc Tin lành và Công giáo. Cũng từ những sự hình dung sắp xếp đó, chúng tôi đã thành lập những hồ sơ cá nhân cho họ, và từ đó thiết lập một thực trạng của cuộc sống. Để thí dụ, hồ sơ của những quân nhân trẻ được ghi chú như là: “tỏ ra tuân lệnh một cách tuyệt đối, trong khi anh ta sẵn sàng tuyên bố tất cả mọi điều hoàn toàn trái ngược”.
Trong thời gian đầu, không có sự hiện diện giúp sức của các Linh mục, điều này không phải là chúng tôi chủ trương không nhắm đến sự hỗ trợ của các ngài, nhưng nghĩ rằng các vị sẽ cảm thấy đa đoan trách nhiệm, gặp nhiều khó khăn để hợp lực trong giai đoạn này. Hơn nữa, chúng tôi cũng hiểu là với những ý tưởng cải cách, đặc biệt là những phương thức canh tân lúc đó, sẽ làm cho các ngài chưng hửng nếu so với những tư duy và phương thức sinh hoạt lâu nay.
Một số những sự kiện nói lên phương thế và việc chúng tôi làm trong thời điểm đó như sau:
Chúng tôi từng nói là tổ chức khóa Cursillo là một sự việc phức tạp – phức tạp là vì đây là một cuộc hành trình của nhiều lớp người khác nhau: có những người đang sống trong khuôn khổ của Giáo Hội nhưng cũng có những người đang thật cách xa, nhiều người trí thức xen lẫn những người ít học, công nhân hoà với các chức sắc, học sinh sinh viên cùng với những thợ thuyền đủ loại v.v.. Vả lại, chúng tôi cũng được cho biết là những điều hấp dẫn cho giới sinh viên học sinh sẽ chẳng bao giờ là những điều hứng khởi cho các anh phu khuân vác.
Tinh thần Cursillo là thực thể phát nguồn từ việc sống Lời Chúa trong nhiều tình huống và hoàn cảnh sống của mỗi người, và qua đó, từng người cảm nhận được một sức sống dồi dào không sao diễn đạt một cách trọn vẹn. Nguồn sinh lực trào dâng và làm khơi dậy lòng quảng đại và tính khoan dung từ mỗi người một cách không thể ngờ được. Cảm giác này liên tục được cảm nhận cho đến thời gian hiện tại, nếu không bị bóp nghẽn bởi những luật lệ và định kiến từ các giới chức.
Chúng ta cần phải cảm tạ Thiên Chúa qua sự việc các Linh mục và Giáo dân đã bổ túc cho nhau trong nhiệm vụ hướng dẫn các Khóa Ba Ngày. Để từ đó, nếu mọi việc diễn tiến như ý, các vị Linh mục sẽ cảm thấy thật hài lòng vì đã thể hiện nếp sống như Thánh Augustinô mô tả: “Với anh chị em, tôi là một Kitô hữu; để linh hướng, thì tôi làm như vị Giám mục của anh chị em”.
Mặt khác, trên phương diện của Giáo dân, Cursillo cống hiến một khám phá là nếu giá trị của cuộc sống được nhìn nhận qua việc sống đời Kitô hữu một cách sung mãn hơn, thay vì chỉ nhắm vào việc chỉnh đốn và sửa sai những trở ngại nội bộ của Giáo Hội. Có như thế, uy tín và thanh thế của Giáo Hội sẽ tăng lên và tạo được sự tiếp xúc cận kề với thế giới chúng ta đang sống.
Chúng tôi cũng nói lên lời cảm ơn đến các vị Linh mục đã tin tưởng và cho chúng tôi sự tự do tìm hiểu để khám phá ra được phương thức mới trong việc loan báo Tin Mừng đến cho tha nhân. Phương thức vượt qua tính cổ hủ và nhàm chán, để qua đó, sức sống miên viễn của Phúc Âm được truyền đạt.
Không cần phải nói ra là những luồng tư tưởng mới luôn tạo ra những trở ngại. Chúng tôi đã phải trải qua một thời kỳ thật khó khăn, cho đến nay vẫn còn là những kinh nghiệm đau thương đối với một số anh em và là điều buồn lòng của chính tôi.
8. Thiên Chúa luôn làm dậy men cho những Ơn Đặc Sủng trong Giáo Hội.
Eduardo: Theo tôi nhận thấy rõ ràng là Thiên Chúa không bao giờ bỏ phế Giáo Hội của Ngài. Qua suốt công trình tạo hóa, Ngài đã luôn biểu lộ tình yêu thương nhân loại của Ngài bằng cách này hay cách khác. Tùy theo từng người, Ngài áp dụng nhiều phương cách khác nhau để đánh động lương tâm và mở lòng để mọi người nhận biết được những điều khó tin nhưng trở thành sự thật, và về tình bạn Ngài dành cho chúng ta. Có những lúc Ngài dùng một người nào đó, một biến cố hay một tư tưởng, một cộng đồng hoặc một sự việc gì đó v.v… để tỏ bày và kêu gọi sự dấn thân của mỗi người chúng ta.
9. Anh hiểu thế nào về Ơn Đặc Sủng?
Eduardo: Tôi tuyệt đối tin tưởng vào những gì mà Thần Học quả quyết. Chúng ta có thể xác tín rằng Ơn Đặc Sủng là một món quà của Thiên Chúa ban cho một người Ngài chọn. Và món quà này không dành riêng cho người được ban tặng, mà dành để tạo ơn ích cho Cộng Đồng người đó đang sinh sống và Giáo Hội nơi trần thế.
10. Ơn Đặc Sủng nằm trong lòng Giáo Hội.
Eduardo: Thật là một điều trái nghịch nếu nghĩ mình là một Kitô hữu nhưng không là thành phần của Giáo Hội. Khi điều này xảy ra, có nghĩa là khi một người nào đó cố tình không nhìn nhận thực thể của một Kitô hữu hoặc thực thể của Giáo Hội, và đó là điều trái nghịch. Sứ điệp của Thiên Chúa truyền đạt đến cho nhiều người một cách duy nhất qua những Giáo Huấn nghiêm túc của Giáo Hội. Và điều này trở thành điều phi lý đối với họ, mang đến cho họ ý tưởng sai lạc và thiếu tích cực về Giáo Hội. Họ nghĩ là Giáo hội chỉ là một tập hợp của một số ít người sống không thực tế, với phương thức truyền thông và giao tiếp khó tạo được mối tương quan hài hòa cho mọi người.
11. Đâu là mối tương quan giữa Anh với cơ chế của Giáo Hội? Với Đức Giáo Hoàng, đấng có trách nhiệm đưa ra những phán quyết về các đặc sủng theo chức năng của Ngài?
Eduardo: Theo thiển ý của tôi, thì đó chính là trách nhiệm thuộc về thẩm quyền của Giáo Hội, để phân biệt, khuyến khích chứ không phải để bóp nghẹt những sáng kiến hoặc ý tưởng. Về mặt này, tôi đã rất vui khi đọc: “Sự đánh giá tính xác thực cùng sự hành xử hợp lý về một đặc sủng là trách nhiệm của các đấng thẩm quyền trong Giáo Hội, đó là nhiệm vụ của họ, trên hết, không để làm tắc nghẽn Thần Khí, nhưng là để xem xét mọi chi tiết và để duy trì sự tốt lành.”
Phong trào Cursillo là một phong trào trong Giáo Hội, nhưng không cho Giáo Hội, mà là cho trần thế, có nghĩa là cho tất cả mọi người trên trần gian, cũng giống như Giáo Hội thôi. Vì là một phần của Giáo Hội, nên Phong Trào cũng cần có linh mục và giáo dân, những người này phải đối thoại liên tục, phải trung thành và gắn kết với Đặc Sủng Nền Tảng. Nhưng thật không may, những điều quan trọng lại thường bị xao lãng, phần lớn là trong lãnh vực phán quyết, và những ý tưởng họ đưa ra thường cho một ấn tượng là họ làm để tìm kiếm sự tôn vinh bản thân hơn là để học hỏi một cách nghiêm túc về ý nghĩa sâu xa điều “TẠI SAO” của Cursillo và Cursillo nhắm “TỚI AI”.
Tôi thấy rõ cứ mỗi lần tôi muốn trở thành con của Giáo Hội thì tôi lại nhận ra một sự kiện mà nó đã tái diễn nhiều lần trong quá khứ: đó là khi một ai đó có một ý tưởng khác với những ý tưởng cũ, thường họ phải tự đứng lên, dùng mọi năng lực để đối đầu với những ngược đãi, quấy nhiễu và nghi ngờ. Theo tôi, tốt nhất là giáo quyền nên có sự phán quyết sáng suốt. Ý của tôi là những tư tưởng mới có thể đang trải qua sự tôi luyện hoặc có khả năng thắp sáng sự nhận thức. Đôi khi, với những người có ý tưởng mới mẻ – và ngay chính kinh nghiệm bản thân của tôi, tôi cũng khẳng định qua thái độ của các môn đệ khi họ thấy Chúa Giêsu không được người dân đón tiếp ở Samaria: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng tôi xin lửa từ trời xuống thiêu đốt họ không?” Tôi cứ nghĩ rằng Chúa phải vui mừng khi thấy mức độ nồng nhiệt mà các môn đệ của Người đã thể hiện. Nhưng điều này đã chẳng khiến Ngài bận tâm, và kết quả là lửa bởi trời không bao giờ đến.
Tôi tin rằng tất cả các sáng kiến và những mối quan tâm đã nổi lên theo một cách nào đó ở khắp mọi nơi, có, rõ ràng là có, điều cần thiết là phải có sự nhận định sáng suốt của các đấng thẩm quyền, nhằm làm nhẹ bớt sự phấn khởi cũng như làm dịu bớt cường độ thực hiện bởi sự nghiên cứu do những giá trị tồn tại theo nhận thức của họ. Nhưng tôi đang tự hỏi, cách thức để đạt được nó sao lại quá phức tạp như vậy.
Về “Khóa Cursillo”, đối thoại đã chưa hề được đưa ra cũng như chưa hề được lắng nghe từ những người sáng lập. Tôi phải thú nhận rằng đôi lúc tôi không đúng khi dùng ngôi thứ ba số nhiều, nhưng khi nói mà dùng ngôi thứ nhứt số ít thì lòng tôi thật áy náy. Có thể đây chính là lỗi của tôi do việc tôi đã chọn giải pháp dễ dàng nhứt, đó là bắt sự thật mà tôi đã từng sống phải im lặng; nhưng không phải tôi làm như thế để chọn con đường dễ dàng nhứt, mà thật ra vì tôi đã từng trải qua nhiều kinh nghiệm và cảm nhận rằng trong vô vàn trường hợp, vâng lời quan trọng hơn sự thật và lòng tôi chỉ mong muốn các Khóa Cursillos được tiếp tục bất chấp mọi sự.
12. Xin Anh vui lòng cho chúng tôi biết làm thế nào đặc sủng của Anh được hình thành một cách cụ thể như thế? Ơn ấy được biểu lộ như thế nào trong những người tham gia vào Phong Trào của Anh?
Eduardo: Trước hết, phải thưa rằng từ “của anh” trong câu hỏi của ngài khiến tôi không thoải mái. Tôi tin rằng những gì Phong trào đạt được, những gì nó đã cố gắng thực hiện nơi trần thế, đã trở thành hiện thực bởi vì tác giả của nó chính là Chúa Thánh Thần.
Theo cách tôi hiểu thì đặc sủng được xác nhận theo thời gian, vì ở một mức độ nào đó những người đã ôm ấp sự sắp đặt hợp lý tất yếu trong suốt ba ngày của Khóa Cursillo, họ hiểu được sứ điệp đơn sơ của nó và đã cố gắng chuyển sứ điệp ấy vào đời sống thực tại hàng ngày của họ, sự chú tâm và sự khẳng định mà họ thu thập được trong Khóa Cursillo, đó là Hội Nhóm trên bình diện cá nhân và Ultreya trên bình diện xã hội,
Trong cả hai trường hợp, bằng cách cẩn thận trau dồi tính năng động của việc hoán cải, qua sức mạnh hợp nhất của tình bạn, không chỉ giúp con người đến với nhau để tạo sự liên kết, mà còn cho họ cảm thấy cần tự nguyện gắn bó thành một nhóm nhỏ mang tính nhân loại trong cuộc sống hàng ngày. Điều này tạo ra và duy trì trong nhóm cả những điều nhỏ nhặt một sự khắng khít chân thành mà ở đó mỗi người có cơ hội thể hiện bản thân mình trước những người khác.
Sự kết hợp sống động và hấp dẫn nơi các nhóm này được thúc đẩy bởi tính khí cá nhân của mỗi người, họ theo đuổi cuộc sống riêng qua ba đòi hỏi của ngày đầu tiên trong Khóa Cursillo, là tinh thần nhiệt tình tràn đầy hy vọng, sự tự hiến và sự yêu thương.
Những sắp đặt này được sống trong bầu khí huynh đệ tuyệt vời, nhờ thế mà nó tạo ra một thể cách đặc biệt trong mối quan hệ, cùng với ngôn từ và phong cách riêng của niềm vui tự nhiên và chân thành. Điều này rất dễ thấy và nó khác với những gì “người ngoan đạo” thường ứng dụng trong cuộc sống. Nhờ thế mà những ai đã trải nghiệm qua một Khóa Cursillo đều có thể rút ra được bằng chứng để kết luận là Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người trong Chúa Giêsu Kitô.
Mỗi người cần hiểu rằng, để là một Kitô hữu thì việc đầu tiên là họ phải cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương họ, và sống trong sự kỳ diệu ấy, việc làm xác thực nhất của người Kitô hữu là để cho Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Thái độ nội tâm được tạo ra bởi thực tế này, và khi tin tưởng và sống trọn vẹn điều đó thì người Kitô hữu sẽ trở thành men truyền đạt tới người khác. Tuy nhiên, để nắm bắt điều đó, để trải nghiệm nó, để gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu, điều cần thiết là phải biểu tỏ rõ chính bản thân thật sự của mình trước mặt Thiên Chúa.
13. Thường thì chúng ta cho rằng Tin Mừng chỉ được thảo luận với những nhà chuyên môn. Vậy ai là những người được nhắm đến theo Đặc Sủng của Anh? Tại sao giáo dân và tu sĩ lại có thể sống điều đó cùng với nhau?
Eduardo: Ngay từ khởi đầu, Phong Trào Cursillo đã cho rằng Tin Mừng phải được gửi tới tất cả mọi người trên trần thế không phân biệt một ai. Đặc Sủng của Cursillo là cho tất cả, nhưng chúng tôi cũng cho rằng nếu những người hội đủ điều kiện giống như một đầu máy xe lửa, theo thuật ngữ riêng của chúng tôi, thì nó sẽ kéo những toa tầu theo nó một cách dễ dàng. Bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào Đặc Sủng của Cursillo được hiển thị và rồi các linh mục cũng như giáo dân đã hiểu nó, thì ở đó luôn luôn có một cuộc gặp gỡ mang lại lợi ích cho cả hai và cũng luôn luôn có một mối bận tâm cấp bách thôi thúc mọi người, những người đã được kêu gọi để thực hiện phương pháp Cursillo, tiếp tục tìm hiểu và sống với ân sủng của Chúa. Điều này cũng sẽ khích lệ một tình bạn chân thành giúp loại bỏ những thành kiến và hiểu lầm. Cái làm cho Cursillo khác biệt và độc đáo, là những con người khác nhau cùng tham gia và làm theo những gì khi những yếu tố cần thiết và những điểm cơ bản của Kitô giáo được giải thích.
Khóa Cursillos rất cụ thể và luôn luôn nhằm vào sự độc đáo, sự sáng tạo và cá tính riêng của mỗi người. Có nghĩa là khi một người nhận thức được cái tốt và cái ác trong việc khám phá và thực hành theo sự tự do của họ, thì sự khám phá này không phải do một mình họ mà còn có Thần Khí Chúa ở trong họ nữa. Nó vạch rõ và giải thích sự cần thiết về lòng tự trọng, sự hủy hoại của của cải vật chất cùng những hành vi bán rẻ danh dự. Người đó còn biết phân biệt đâu là những giá trị và cao quí so với những điều không thể thay đổi khởi sinh từ giá trị của Tin Mừng. Điều này bảo đảm thông điệp đến với hầu hết những ai qua Tin Mừng biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ và Tin Mừng này có thể được truyền đạt một cách hiệu quả nhất qua phương tiện tình bạn. Nhận thức ra rằng, qua ba cuộc gặp gỡ trong Khóa Cursillo, với chính mình, với Chúa Kitô và với anh em, thực tế là trở thành bạn với chính mình, với Chúa Kitô và với anh em, cùng nhau trung thành với ân sủng, cùng nhau tỏ lộ một tiêu chuẩn Kitô giáo nhằm tạo điều kiện cho một định hướng chính xác, một sự soi dẫn cần thiết với sự can đảm kiên định hơn để giải quyết mọi vấn đề theo ánh sáng của Chúa. Và rồi, từng chút một, chúng ta hiểu ra Chúa Kitô đã mang đến cho chúng ta một niềm hạnh phúc thật, tạo một đường lối đơn giản với những phương tiện cần thiết, để chúng ta trải nghiệm trong việc sống với Chúa Kitô qua ơn sủng của Ngài, giúp chúng ta có thể vượt thắng mọi hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy an bình. Chúng ta được mời gọi để đem sự dịu hiền của Chúa hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới này.
14. Làm thế nào Anh nhận ra mối quan hệ của Anh với Thiên Chúa ngày nay?
Eduardo: Mối quan hệ của tôi với Thiên Chúa được thể hiện rõ ràng qua mối quan hệ tình bạn chân thành và sâu sắc của tôi với những người thiệt thòi, chủ yếu là tù nhân, và những người nghiện hút. Tôi chưa bao giờ đến với họ để dạy cho họ bất cứ điều gì, đúng hơn là tôi cố gắng tận dụng những gì tôi có thể học hỏi được từ họ. Nhiều người trong số họ là những chuyên gia về đức cậy, nhiều người khác đã có thể tha thứ cho những điều mà chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng ra được, lại có những người vẫn luôn hy vọng mặc dù họ đang ở trong một hoàn cảnh vô cùng tuyệt vọng, và có nhiều người, mặc dù họ có những nỗi đau đớn trong tâm hồn, nhưng vẫn cố đem niềm vui tới cho người khác, cố làm vơi đi những đắng cay, chua xót trong cuộc sống của họ bằng một cách thức nhỏ nhoi nào đó.
Tôi tin rằng sự tiếp cận mà tôi xây dựng một cách khéo léo, không mang tính gia trưởng, trong tình anh em thắm thiết, trong lời cầu nguyện, qua các bí tích, trong việc sống liên kết với Chúa và Giáo Hội của Ngài, đã mang tôi đến gần Chúa hơn.
15. Hành trình gặp gỡ Thiên Chúa của Anh như thế nào?
Eduardo: Hôm nay, cũng như hôm qua và mãi mãi, tôi nhìn thấy, hay rõ hơn là tôi trải nghiệm ra mối quan hệ với Thiên Chúa qua hồng ân Ngài đã ban cho tôi, là tôi có thể sống trong ân sủng của Ngài. Tôi cố gắng ý thức về điều đó và nuôi dưỡng hồng ân này qua cầu nguyện cũng như thường xuyên lãnh nhận các Bí Tích.
Tôi thường kinh ngạc, và đã có một thời gian khó khăn để hiểu ra nhu cầu tìm kiếm những động cơ thích hợp cho thời đại của chúng ta, thậm chí tới những nơi mà chúng ta đang sống, nhằm khơi dậy trong mỗi con người tình yêu của Chúa Kitô.
Tôi chân thành tin rằng nếu chúng ta đặt động cơ thúc đẩy cao lên hàng đầu (một thực tại tình yêu Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người và tất cả sẽ xảy ra trong lĩnh vực này, nếu đào sâu nó, nghiên cứu nó, tìm kiếm và ứng dụng một cách dứt khoát các phương tiện để đạt được nó) người ta sẽ thu lượm được nhiều hơn từ mọi lãnh vực. Tất cả mọi Kitô hữu, thay vì cổ vũ xung quanh cái gọi là khía cạnh “tu sĩ”, thì họ sẽ đạt được nhiều hơn nếu họ thành công trong việc khẳng định phạm vi Kitô hữu trong tâm trí nhiều người.
Tôi thường luôn luôn ấp ủ ý tưởng về việc ứng dụng trách nhiệm đối với sự sinh động của những cộng đồng Kitô hữu. Tôi tin rằng nếu mọi năng lực được sử dụng cho mục tiêu giúp mỗi người tìm đến sự hiểu biết bản thân, để họ phát hiện ra phẩm chất của chính họ qua cách thức đơn giản, và rồi họ sẽ nhận ra để biết ơn về những phẩm chất này. Nhờ vậy, họ sẽ dễ chấp nhận vị thế của họ, và thậm chí họ cũng dễ dàng thừa nhận những giới hạn riêng của họ với sự lạc quan.
Tôi tin đó là hướng đúng để nhắm tới, nhờ thế mà mỗi cá nhân đạt được theo sự đáp ứng của họ đối với một sự thật cao cả, là Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong Chúa Kitô, tiêu chuẩn của Kitô giáo, để họ có thể phân biệt theo ánh sáng phúc âm trên bất cứ điều gì mà họ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày.
Khi chúng ta yêu, thì chắc chắn chúng ta biết chúng ta yêu, khi chúng ta được yêu, thì đó lại là vấn đề của niềm tin. Một người khi yêu với lòng ngờ vực, thì dù tin hay không tin, thế nào họ cũng được yêu lại, nhưng một người cảm thấy họ đã yêu, thì chẳng có gì để nghi ngờ. Như vậy, khi một người trải nghiệm theo cách này và tin rằng họ được Thiên Chúa yêu thương trong Chúa Kitô thì niềm tin ấy sẽ là động lực, là định hướng, và là mục đích của cuộc sống và người đó cảm nhận được rằng, để là một Kitô hữu thì không chỉ biết một ngày nào đó họ sẽ được đền bù, mà là để sống ý thức là họ đang còn sống, điều này nhắc nhở họ để họ luôn luôn biết tạ ơn Thiên Chúa.
Khi một người có thái độ như thế đối với cuộc sống, thì họ sẽ nhận ra rằng cuộc sống rất đẹp, rằng con người rất quan trọng và đời sống thật đáng sống.
16. Cho nên mọi thứ phải được đặt nền tảng trên Tin Mừng?
Eduardo: Đối với tôi, Tin Mừng luôn luôn là định hướng đúng đắn, là ánh sáng soi rọi, và là một sự nâng đỡ liên tục trên mọi nẻo đường cuộc sống của tôi. Mục tiêu của tôi luôn luôn là tôi có thể cầu nguyện với Chúa Cha, hàng ngày và trong sự thật.
17. Ý nghĩa “truyền giáo” ngày nay là gì?
Eduardo: Theo quan điểm của tôi, điều này có nghĩa tương tự như trong quá khứ cũng như trong tương lai. Tin Mừng không thay đổi, nhưng nó làm chúng ta thay đổi. Tin Mừng luôn luôn mới và luôn luôn canh tân chúng ta. Nó là ý nghĩa để sống và để thay đổi. Tôi cho rằng những khó khăn hiện nay xuất phát từ thực tế là con người thích những gì trước mắt hơn những gì là sự thật, và điều này xảy ra vì toàn bộ thế giới được tổ chức để ngăn chặn sự suy nghĩ của con người hoặc không cho con người có thời gian để suy nghĩ, nó kiềm chế, tác động và đề xuất mọi thứ ngoại trừ việc để hành động như là một con người.
Để truyền giáo cho con người, không chỉ nói với họ về Tin Mừng, mà điều cần thiết là đặt họ vào hoàn cảnh cho phép họ có thể nắm bắt thông điệp của Chúa Kitô, và giữa mọi phức tạp của cuộc sống họ phát hiện ra dưới ánh sáng đức tin, Tin Mừng cho họ những định hướng đúng đắn để họ sử dụng sự tự do của họ và được hạnh phúc hơn, Tin Mừng soi sáng giúp họ tìm được sự cân bằng chính xác giúp cung cấp sự an bình nội tâm và giúp họ mạnh dạn để nhận định ra các sự kiện tốt cũng như xấu trong cuộc sống.
18. Đặc sủng của Anh đã phản ánh vào tâm hồn của thế giới hiện đại như thế nào?
Eduardo: Mặc dù khó hiểu, nhưng tôi không dám nghi ngờ ý hướng tốt lành của những người thường dùng sự cao thượng mà họ gặt hái được trong Khóa Cursillo, bằng cách đưa ra một định hướng không nhắm vào trần thế nơi họ đang sống, mà lại hướng vào những công việc của nhà thờ. Điều này được thể hiện qua việc họ tham gia vào việc giảng dạy giáo lý hoặc đi thăm nom người cao tuổi v.v. Thật ra thì có hàng loạt các hoạt động cần những người tốt lành. Nhưng thử hỏi có cái gì đó tốt hơn cho những người đã được hoán cải trong Khóa Cursillo không? Nếu kết quả của Khóa làm vui lòng họ, cho họ cảm giác thỏa mãn, cho họ tin rằng họ đã đạt được điều mong muốn, thì động lực hoán cải này đòi họ phải tiếp tục, phải quy vào chính con người của họ, họ sẽ rất hài lòng với những điều tốt đẹp họ đang làm. Họ cảm thấy toại nguyện.
Chúng ta không thể loại bỏ ý tưởng, là nó sẽ khác biệt và hiệu quả hơn khi sự hoán cải được hướng vào trần thế, hướng vào nơi họ đang sống, mà ở đó họ sống như là một Kitô hữu bình thường, phấn khởi và thanh thoát.
Nhưng thay vì làm như vậy, thì ngược lại hầu hết thành viên của chúng tôi lại được cổ vũ tham gia vào công việc của các tổ chức thiện nguyện (Caritas), đảm đương trách nhiệm các lớp giáo lý, tham gia vào ca đoàn giáo xứ, v.v. Tất cả điều này dẫn đến một thông lệ, và ở một mức độ nào đó nó cho thấy một sự thất vọng, theo hai cách: nếu một người rất thông minh, nhưng không thánh thiện – tôi muốn nói là rất thánh thiện – anh ta kéo hết một việc chung về phía anh ta và giả dụ anh ta đồng ý với bất cứ điều gì nó đòi hỏi, thì anh ta hoặc cô ta có thể phải nói lời từ biệt với chồng hoặc vợ, với con cái, với mối quan hệ trong công việc hoặc bạn bè của anh ta, vì anh ta không còn thời gian cho chính những người đó nữa. Theo ý khiêm hạ của tôi, có thể họ sẽ trở nên rất thánh thiện theo cách này, nhưng họ sẽ không phải là loại thánh nhân mà thế giới và Giáo Hội ngày nay cần.
Trong bối cảnh phối trí như thế, thì những người đang làm việc trong lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, và xã hội, phải rời bỏ môi trường mà ở đó Thiên Chúa đã đặt để để đi vào những khu vực đạo đức. Nếu những người này nghĩ, vì họ quen sống theo ý tưởng và cá tính riêng, thì họ được kêu gọi cầu nguyện. Tôi không nghĩ những người cầu nguyện này lại không cảm thấy khó chịu, hoặc là một linh mục có thể được phục vụ bởi hai mươi người chỉ biết vâng lời thì tốt hơn bởi những người dám có những ý tưởng riêng của họ; nhưng nếu một người sống đời sống Kitô hữu sâu sắc, với nhân cách được định hình bởi Ơn Sủng, điều này cho phép họ có thể rao giảng Tin Mừng bằng cách trở thành ánh sáng, muối và men giữa những người cùng sở, giữa bạn bè của họ, và chẳng có gì để nghi ngờ về hiệu quả ảnh hưởng nơi môi trường riêng của họ.
Tôi không loại bỏ ý tưởng cho rằng con người sẽ không tiến xa được nếu các nền văn hóa, chính trị, kinh tế và đời sống xã hội không có sự hiện diện của những người Kitô hữu đích thực với sự tin tưởng, xác tín và kiên trì. Khóa Cursillo không phải là cách duy nhất để đạt được điều đó, nhưng ở đâu nó được sử dụng theo mục đích của nó, thì ở đó nó đã làm cho điều này trở thành hiện thực, mà ngay từ khởi đầu đã khiến chúng tôi rất vui. Nó cũng đã được linh mục Bella Bernegger ca ngợi: “Nếu Đạo Công Giáo cho những người ngoại đạo thấy rằng nó có thể kết hợp con người của mọi tầng lớp xã hội trong một tinh thần gia đình, từ các viện sĩ hàn lâm tới những nghệ nhân, từ dân cán chính đến công nhân, từ nữ doanh nhân đến những bà nội trợ, thì đây là một thực tế đơn giản tác động có sức mạnh không thể cưỡng lại và sẽ trở thành công cụ tông đồ hoàn hảo nhất.”
19. Về phần Anh, anh có mối quan hệ với những người không có đức tin, những người thuộc về một tôn giáo hoặc một giáo phái Kitô giáo khác như thế nào?
Eduardo: Tôi có mối quan hệ tốt, tốt hơn nhiều so với những người Kitô hữu mà tôi đã gặp, những người họ tin rằng họ đã thành công – và tôi mong rằng tất cả điều này được thực hiện trong ý hướng tốt lành. Các Kitô hữu này tin rằng chỉ thực hành việc tôn giáo là đủ và không cần có một phương tiện để đạt được cái cùng đích, họ là những người có khó khăn để hiểu rằng người Kitô hữu nên tham gia vào việc hoán cải, trên cơ sở hàng ngày, trong một tiến trình liên tục hơn, và đó là những gì nói lên mối quan hệ với Thiên Chúa, để hiểu rõ hơn, để biết rằng mình tin chứ không phải tin rằng mình biết.
Một trong những điều mà tôi không bao giờ cảm tạ đủ đối với Thiên Chúa, và không nghi ngờ, trong những hồng ân to lớn nhất Ngài đã ban cho tôi, là tôi đã được anh chị em ly khai ở Hoa Kỳ mời nhiều lần. Họ là những anh chị em phân cách mà tôi hay gọi đùa là những anh chị em đầy ước vọng của tôi.
Với nhiều lần mời khác nhau và tôi đã luôn luôn nhận lời. Mục đích của họ là họ cho tôi cơ hội để giải thích Phong Trào Cursillo là gì và đâu là những điều nó đòi hỏi. Mỗi cuộc họp đều mang lại sự nồng ấm, hiệu quả với nhiều điều tốt lành lẫn cho nhau. Trong những cuộc gặp gỡ này tôi có thể nói một cách tự do, khác với những cuộc họp “cấp cao” của OMCC (Tổ Chức Cursillo Kitô Giáo Thế Giới), mà ở đó tôi chưa hề bao giờ được lắng nghe, ở đó các quy tắc đã đưa ra một hướng đi khác với chúng tôi, là những người sáng lập ra Phong Trào, và cũng ở đó luôn luôn có sự cám dỗ để mọi người nghe theo và sẵn sàng làm theo.
20. Những thách thức đối với Giáo Hội ngày nay là gì?
Eduardo: Tôi thường tự hỏi: cái gì là nhu cầu cấp thiết nhất trong thế giới ngày nay; một con dân của Giáo Hội hay một Giáo Hội của dân? Điều gì cần thiết để con người thực sự là con người, những người nam và nữ có khả năng nhận thức, quyết tâm và kiên trì.
Có một thời khi mọi thứ mà con người phục vụ là để bảo vệ những thứ thánh thiêng. Ngày nay, chúng ta nhận ra thực tế thánh thiêng hệ tại bởi chính nó, nếu nó được sống qua con người, những người ôm ấp nó trong niềm xác tín và đặt nó vào đúng vị trí với quyết tâm và kiên trì thì nó có thể phục vụ giống như sự giao thoa giữa khoa học và kỹ thuật, để nhân loại có một chiều sâu cần thiết cho một tiến bộ đích thực, nơi mà những người nam cũng như nữ có thể cảm thấy chính mình là anh chị em với nhau.
Một cách chân thành, tôi tin rằng tổ chức duy nhất sở hữu tất cả những phẩm chất để trở thành chính lộ, yêu thương và mạnh mẽ nhắm tới tương lai là Giáo Hội Công Giáo, với điều kiện là Giáo Hội này cần hướng vào con người nơi trần thế, chứ không hướng vào thế giới, và Giáo Hội phải ngưng sự hiện diện chỉ duy nhất cho riêng mình.
21. Theo Anh, thì Giáo Hội có cần chuẩn bị để đối mặt với tương lai không?
Eduardo: Vì ma quỷ không bao giờ nghỉ ngơi, thậm chí vào cả dịp Giáng Sinh, và khi mà nó luôn luôn được cảnh giác “như sư tử rống”, thì các Kitô hữu không thể ngủ mê.
Theo ý khiêm hạ của tôi, những mối nguy hiểm luôn luôn giống nhau, và chúng thường nẩy sinh bởi sự vắng mặt của Thiên Chúa trong tâm trí của con người. Rất nhiều hành vi phạm tội phổ biến ngày hôm nay, cũng như hôm qua và mãi mãi, tất cả đều có một nguyên nhân tương tự. Nếu chúng ta mang lại sự tốt, chúng ta luôn luôn có thể đi đến kết thúc tương tự như người chị của Lazarô, khi Chúa Kitô đến với họ sau cái chết của em trai mình: “Nếu Thầy ở đây, thì em trai của chúng tôi sẽ không chết”
Tôi đã luôn luôn nghĩ rằng khi Giáo Hội không đáp ứng được cho tương lai nhân loại là do sự yếu đuối của giáo dân, thì Giáo Hội cũng không đáp ứng được cho tương lai người Kitô hữu. Và thế nào là Kitô hữu, khi không là con người thì không phải là Kitô hữu.
Tôi tin rằng khi những gì nơi Kitô hữu lộ diện, khi sóng biển trần thế đập vào vách niềm tin của người Kitô. Những gì được coi như là con người, những người sống giữa trần thế, trong thế giới giáo dân của họ, nơi mà Thiên Chúa đã đặt để họ, họ có thể nhìn thấy ở đó có năng lực kỳ diệu, hiển nhiên và hấp dẫn trong sự gặp gỡ diệu kỳ giữa những gì được gọi là con người, bởi vì đó là Kitô hữu, và Kitô hữu là gì, đó là con người. Những sự việc xấu có thể trở nên tốt trong tâm hồn của con người.
Là một người con của Giáo Hội, tôi muốn làm theo tất cả những gì Đức Giáo Hoàng đưa ra như một hướng đi cho thiên niên kỷ thứ 3.
Để đạt được việc làm cho những con người khác nhau đến để mặt đối mặt với chính bản thân, với Chúa Kitô và với anh chị em của họ thì chẳng có gì để nghi ngờ, phương tiện tốt nhất cho chúng ta là chúng ta cần chuẩn bị tinh thần và nhận thức tốt hơn hầu có thể đi theo sự dẫn dắt của Giáo Hội.
Nguồn – Canadian Conference Of Catholic Cursillos 2003