Cảm nghiệm tâm linh đối với Tagore là bằng tình yêu: “Khi ta yêu bất cứ ai, ta nhận ra ở họ tâm linh của ta theo ý nghĩa cao cả nhất. và ta thấy ở đó cái chân lý rốt ráo của kiếp sống”[1].  “Thiếu tình yêu là một thứ chai đá, vì tình yêu là sự tòan thiện của tâm thức. Ta không yêu vì ta không hiểu, hay nói đúng ra ta không hiểu vì ta không yêu”[2].

Trong ngôn ngữ thơ của Tagore, chúng ta thấy bàng bạc những cách nói của ngôn ngữ tình yêu. Tình yêu không giới hạn được phát khởi từ con tim trong sạch, không giận hờn, ghen tương, thù óan, không lừa dối ai, không hại ai. Tình yêu ấy cũng có tên gọi là tự hiến và cho đến vô tận, phản ảnh một “Tình yêu chết cho người mình yêu”[3].

Tình yêu luôn làm nên cái mới và do đó luôn làm bất ngờ khi gặp gỡ. Trong cõi vô biên, tình yêu cũng vô biên. Trong cõi vô biên ấy, người ta có thể bắt gặp một hình ảnh thể hiện trong một hình ảnh cụ thể nào đó, như ánh trăng, như cành hoa, như làn gió…Mỗi lần cảm nghiệm lại khác nhau nên cõi vô biên là thế, đi bao giờ cho hết, nói bao giờ cho cùng. “Ánh âm bản Người sáng tạo soi sáng cùng thế giới. Hơi thở cuộc đời trong giai khúc Người gieo lan tỏa mọi phương trời. Dòng suối thiêng liêng trong điệu khúc Người tấu vượt từng vách đá cản đường rồi băng mình chảy miết”[4].

Ở Ấn Độ tư tưởng con người hòa đồng với vũ trụ là một chân lý vĩ đại nhất. Ở đó con người lặn ngụp trong bể sóng bao la, mỗi một con sóng là một nhân cách và mỗi nhân cách lại có những đặc điểm khác nhau và trong sự khác nhau ấy bản chất vẫn là nước đại dương. Hòa quyện, mà không đồng hóa, hòa quyện mà không tan biến, sự hòa hợp “Một mà hai, hai mà một”: “Hỡi Người Tự biểu lộ chính mình, xin Người hãy biểu lộ Người ở nơi con”.  

Xin Người biểu lộ nơi con chính Ngài giống như lời cầu nguyện của Thánh Augustin trong tự thuật: “Xin cho con biết Chúa để cho con biết con”. Đó là một thực tại đang được vận hành trong tình thương của Thiên Chúa, một lịch sử đời rất thường được mở ra trong lịch sử Ba Ngôi Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô Giêsu và trong Đức Giêsu Kitô.

Trong khi biết và cảm nghiệm, người Kitô hữu đến gặp gỡ Đức Giêsu Kitô,  không những muốn biết Ngài mà còn khao khát Ngài, không những khao khát Ngài mà còn muốn được ở trong Ngài. Chúng ta có thể gặp gỡ kinh nghiệm của dân Israel: “Lạy Chúa, xin tỏ Thánh Nhan Người cho chúng con”[5].  

Chúa Giêsu, Ngài đã đến và đã sống lại và Hằng Sống; biết như thế vẫn khao khát gặp Ngài, gặp gỡ Đấng Phục Sinh để được đổi mới như Phaolô đã gặp. Dù khao khát tìm kiếm, dù mòn mỏi đợi trông, dù đã bao lần gặp vẫn chưa thể gọi Danh Người cách chính xác, con người vẫn tìm gặp Ngài và tìm gặp Ngài mãi mãi vì Ngài Tương Lai, là Lẽ Sống. Ngài vượt trên mọi người và Ngài là Con Thiên Chúa đến mặc khải mời gọi con người, thâu họp nhân loại mới trong gia đình Thiên Chúa. 

Con người đi tìm Chúa, bởi vì Chúa mời gọi, tìm kiếm để gặp gỡ và gặp gỡ để tiếp tục tìm kiếm. Chúa là Đấng Khác, Đấng làm say mê, Đấng tỏ bày cho nhân loại, lôi cuốn nhân loại tiến về phía Thiên Chúa, mỗi ngày một xa hơn, một sâu hơn, thắm thiết hơn. “Lạy Chúa, xin cho con tìm kiếm Chúa khi con kêu cầu Chúa; và kêu cầu Chúa khi tìm kiếm Chúa”[6].

L.m Giuse Hoàng Kim Toan


[1] Thực nghiệm tâm linh, R. Tagore,trang 38, bản dịch Như Hạnh, Kinh Thi xuất bản, 1973.

[2] Thực nghiệm tâm linh, R. Tagore,trang 122, bản dịch Như Hạnh, Kinh Thi xuất bản, 1973.

[3] 1Ga, 3, 16

[4] Lời Dâng, R Tagore, Bài số 3, Đỗ Khánh Hoan dịch.

[5] Tv 30, 17

[6] Tự Thuật, Augustin, Kinh khai mạc, Đọan 1. 

[7] Tự Thuật Augustin, quyển 10, tâm trạng tâm lý khi viết tự thuật.